Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại Khoa Nông học – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Nhóm nghiên cứu mạnh Công nghệ canh tác cây trồng bền vững đã tổ chức buổi seminar thảo luận về chuyên đề tối ưu hóa nguồn phân bón hữu cơ lỏng, phát triển cây che phủ đất tạo tín chỉ các-bon và kỹ thuật trồng cây cảnh quan tại các khu vực có điều kiện khắc nghiệt.
Tối ưu hóa sử dụng nước thải lên men methane (MFW) theo loại đất
Một trong những nội dung trọng tâm của buổi seminar là nghiên cứu về việc sử dụng nước thải lên men methane (MFW) làm phân bón cho lúa và ngô trên các loại đất có thành phần cơ giới khác nhau do TS. Bùi Ngọc Tấn trình bày. Nghiên cứu chỉ ra rằng, cấu trúc đất đóng vai trò quyết định đến hiệu quả của MFW và mức độ thất thoát dinh dưỡng Đạm ra môi trường.
|
 |
| TS. Bùi Ngọc Tấn trình bày |
Đối với canh tác lúa trong điều kiện ngập nước, MFW tỏ ra đặc biệt hiệu quả trên đất thịt sét (clay loam), giúp tăng cường sinh trưởng và năng suất rõ rệt hơn so với đất thịt pha cát (sandy loam). Ngược lại, đối với cây ngô trồng cạn, hiệu quả sử dụng MFW trên đất thịt pha cát lại cao hơn. Các nhà nghiên cứu khuyến cáo mức bón tối ưu để vừa đảm bảo năng suất vừa giảm thiểu rửa trôi nitơ là khoảng 90 kg N/ha cho lúa và từ 133 đến 150 kg N/ha cho ngô tùy loại đất. Việc điều chỉnh lượng bón phù hợp với kết cấu đất và chế độ nước không chỉ giúp cây trồng hấp thụ dinh dưỡng tốt hơn mà còn hạn chế phát thải khí amoniac và rửa trôi nitrat, góp phần bảo vệ môi trường bền vững.
Phát triển cây đậu tương đông: Giải pháp cải tạo đất và tạo tín chỉ các-bon
Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc để trống đất nông nghiệp sau vụ lúa hoặc ngô tại miền Bắc thường dẫn đến tình trạng xói mòn và gia tăng phát thải khí nhà kính. Nghiên cứu của TS. Vũ Duy Hoàng đã đề xuất sử dụng đậu tương đông như một loại cây che phủ đất tiềm năng.
|
 |
| TS. Vũ Duy Hoàng trình bày |
Với thời gian sinh trưởng ngắn, đậu tương đông không chỉ lấp đầy khoảng trống thời vụ mà còn mang lại lợi ích kép. Nhờ khả năng cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm, loại cây này bổ sung nguồn nitơ tự nhiên, giúp giảm nhu cầu phân bón hóa học. Đồng thời, lượng sinh khối từ thân, lá và rễ sau thu hoạch góp phần tăng hàm lượng mùn, giữ ẩm và cải thiện cấu trúc đất. Đặc biệt, việc tăng trữ lượng các-bon trong đất thông qua cây che phủ mở ra cơ hội hình thành các tín chỉ các-bon, tạo thêm nguồn thu nhập mới cho người nông dân trong tương lai.
Kỹ thuật canh tác cây cảnh quan trên nền đất cát biển khắc nghiệt
Seminar cũng dành thời gian thảo luận về một thách thức khác: trồng cây tại các khu vực ven biển, cụ thể là dự án tại khu công nghiệp Nam Đình Vũ, Hải Phòng do ThS. Nguyễn Anh Đức trình bày. Đây là môi trường cực kỳ khó khăn với nền đất cát dày, nghèo dinh dưỡng, gió mạnh và nhiễm mặn cao.
|
 |
| ThS. Nguyễn Anh Đức trình bày |
Để giải quyết vấn đề này, nghiên cứu đề xuất thay đổi tư duy từ việc cải tạo toàn bộ nền đất sang phương pháp tạo vùng rễ sống cục bộ. Thay vì tốn kém chi phí cải tạo diện rộng, đơn vị thi công tập trung bổ sung đất màu và dinh dưỡng trực tiếp tại hố trồng, đồng thời trồng cây nổi hơn mặt đất để tránh ngập úng. Bên cạnh đó, việc lựa chọn các loài cây bản địa có khả năng chịu mặn và gió tốt như giáng hương, bàng vuông, nho biển (cây bóng mát) hay muống biển, sài đất (cây thảm) đã giúp tỷ lệ cây sống đạt mức cao ngay cả trong mùa khô.
Các nghiên cứu đã minh chứng cho cách tiếp cận đa chiều của nhóm nghiên cứu: từ việc tận dụng chất thải nông nghiệp làm phân bón, ứng dụng cây che phủ đất để bảo vệ tài nguyên và tạo giá trị kinh tế mới, đến các kỹ thuật canh tác thích ứng với điều kiện khắc nghiệt. Đây đều là những mảnh ghép quan trọng để xây dựng một hệ thống nông nghiệp bền vững, giảm phát thải và giàu giá trị gia tăng.
Nhóm NCM Công nghệ canh tác cây trồng bền vững.