Cà dại quả đỏ (Solanum capsicoides) thuộc họ Cà (Solanaceae), là loài cây vừa có giá trị làm cảnh vừa được sử dụng làm dược liệu và đã được ghi nhận trong các tài liệu y học cổ truyền để điều trị nhiều bệnh khác nhau, đặc biệt là các bệnh liên quan đến hệ hô hấp. Các nghiên cứu y học hiện đại cho thấy: các bộ phận trên mặt đất của loài này có tác dụng hạ huyết áp và chống trầm cảm. Nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học như withanolides, steroidal alkaloids, steroidal saponins và phenylpropanoids đã được phát hiện trong rễ, thân, lá, quả, hạt, cũng như trong mô sẹo, tế bào huyền phù và rễ tơ nuôi cấy của cây. Các hợp chất này thể hiện các hoạt tính sinh học quan trọng như chống viêm, giảm đau, chống ung thư và hạ huyết áp. Solanum capsicoides phân bố tự nhiên ở các vùng nhiệt đới thuộc châu Mỹ và châu Á; tại Việt Nam, loài này được ghi nhận phân bố từ các tỉnh miền núi phía Bắc đến Thanh Hóa.
Nghiên cứu đặc điểm nông sinh học của Cà dại quả đỏ (Solanum capsicoides) tại Gia Lâm, phố Hà Nội của tác giả Phùng Thị Thu Hà và nhóm nghiên cứu đã góp phần bổ sung và hoàn thiện dữ liệu khoa học về đặc điểm thực vật học của loài cho danh lục thực vật Việt Nam, đồng thời cung cấp cơ sở nhận biết phục vụ công tác thu mẫu. Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu còn cung cấp thông tin về đặc điểm sinh trưởng và năng suất của loài trong hai thời vụ trồng xuân–hè và thu–đông tại khu vực nghiên cứu.
Kết quả cho thấy: Cà dại quả đỏ thuộc dạng cây bụi, ít hóa gỗ, có sinh trưởng thứ cấp. Cây có hệ rễ cọc, ăn sâu và phân nhánh mạnh; rễ sơ cấp có 3–4 bó gỗ cụm lại thành hình sao. Thân cây màu xanh, phần gốc có lớp bần màu nâu xám, đường kính thân dao động từ 5–10 mm. Lá đơn, mọc cách; phiến lá có thùy nông hình tam giác, kích thước 8–14 × 6–12 cm. Cả thân và lá đều phủ nhiều gai nhọn và lông biểu bì không dính. Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5, màu trắng, đường kính 15–20 mm; bầu trên, gồm 2 ô, đính noãn trung trụ; cuống hoa và đài đều có gai nhọn. Quả mọng, có đài đồng trưởng, cuống quả phủ gai nhọn; quả non màu xanh, khi chín chuyển sang màu đỏ cam, đường kính quả từ 1,5–3 cm. Hạt dẹt, màu vàng nâu, có vành bao quanh, kích thước 4–6 mm, số lượng hạt dao động từ 155–361 hạt/quả.
Qua theo dõi trong hai thời vụ nghiên cứu cho thấy: Cà dại quả đỏ sinh trưởng mạnh hơn trong vụ xuân–hè ở tất cả các chỉ tiêu năng suất, với chiều cao cây đạt 44,09 cm, đường kính thân 7,4 mm, số cành cấp 1 đạt 7,87 cành/cây, số lá trên thân chính đạt 30,6 lá, kích thước lá trung bình 11,19 × 11,52 cm. Đồng thời, năng suất cá thể trong vụ xuân–hè cao hơn từ 1,3–1,5 lần so với vụ thu–đông.
|
 |
|
Hình 1. Hình thái Cà dại quả đỏ
A. Hình thái cây con và bộ rễ ở cây con; B. Bộ rễ cây trưởng thành; D, E. Mặt trên và mặt dưới lá; F. Hình thái và cấu tạo hoa; G. Hình thái quả; H. Hình thái hạt |
    |
 |
| Hình 2. Vi phẫu rễ, thân, lá cà dại quả đỏ |
Phùng Thị Thu Hà- Bộ môn Thực vật