Nưa chân vịt (Tacca palmata Blume) thuộc chi Râu hùm (Tacca), họ Củ nâu (Dioscoreaceae), lớp một lá mầm (Monocots) (Powo, 2025). Chi Tacca thường sống trong môi trường ẩm ướt và bóng râm trong rừng nhiệt đới vùng thấp và vùng đồi núi, ở độ cao khoảng 1.300m so với mực nước biển, tập trung nhiều ở các nước Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, Australia, nhiều đảo trên Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, … được sử dụng trong y học cổ truyền các nước như Trung Quốc, Philippine (Jiang et al., 2014; Ni et al., 2015). Ở Việt Nam, theo thống kê có 6 loài thuộc chi Tacca, trong đó loài Nưa chân vịt Tacca palmata Blume phân bố tại ở Bà Rịa Vũng Tàu (Côn Đảo, Bẩy Cánh), Kiên Giang (Phú Quốc, Thổ Chu), mọc ở nơi ẩm ướt dưới rừng, rừng thứ sinh, rừng tre nứa, ven suối, khe núi. (Nguyễn Tiến Bân và cs., 2005).
Bộ phận làm thuốc của Nưa chân vịt là củ, có vị đắng, được sử dụng làm thuốc chữa rắn cắn và làm thuốc chữa điều hòa kinh nguyệt cho phụ nữ (Nguyễn Thị Hà và cs., 2021; Jiang et al., 2014;). Cây Nưa chân vịt đã được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và thế giới (Powo, 2025) với cấp đánh giá "hiếm" (Bậc R).
Nghiên cứu của Phùng Thị Thu Hà và cộng sự về đặc điểm thực vật học của cây thuốc Nưa chân vịt (Tacca palmata Blume) xã Bình An, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang đã góp phần hoàn thiện cơ sở dữ liệu khoa học, bao gồm hệ thống hình ảnh, mô tả đặc điểm hình thái, vi phẫu và đặc điểm bột dược liệu của loài. Những dữ liệu này là cơ sở quan trọng phục vụ công tác nhận diện, bảo tồn và phát triển nguồn gen cây Nưa chân vịt.
Kết quả cho thấy: Cây Nưa chân vịt (Tacca palmata Blume) thuộc chi Râu hùm (Tacca), họ Củ nâu (Dioscoreaceae), là cây thân rễ lâu năm. Củ hình tròn hoặc phân nhánh, mang nhiều rễ con. Lá đơn, phiến xẻ thùy chân vịt, hệ gân chân vịt, gốc cuống lá phình rộng hai bên tạo thành bẹ lá. Thân khí sinh hình thành từ thân rễ, mang cụm hoa tán trên đỉnh, mỗi cụm hoa có 4 lá bắc tổng bao xếp thành 2 cặp đối chéo chữ thập, mang 10-30 hoa/cụm, bao hoa xanh lục hoặc tía, không có lá bắc con. Quả mọng, màu đỏ cam, đường kính 0,7-1,2mm. Hạt màu nâu xám, vò xù xì, có nhiều vân dọc.
Vi phẫu thân rễ có lớp bần bao phủ mô bì, nhu mô chiếm phần lớn diện tích củ, ngoài ra có các bó dẫn phân bố ngang dọc trong thịt củ. Vi phẫu thân khí sinh có bó dẫn hình chữ V nối với nhau bằng cương mô tạo thành 1 vòng tròn và 2 bó dẫn hình quạt năm riêng lẻ ở giữa. Vi phẫu cuống lá có bó dẫn hình giọt lệ xếp thành 1 vòng tròn với mũ cương mô ở đỉnh, gỗ ở giữa và libe ở đuôi. Vi phẫu gân lá có bó dẫn hình vòng cung, libe phân bố xung quanh bó gỗ. Vi phẫu phiến lá chỉ có mô mềm chuyên hóa dạng mô xốp với nhiều khoảng khí.
Bột dược liệu có nhiều hạt tinh bột ngoài ra có tinh thể oxalat canxi, các mảnh mạch và lông hút.
|
 |
Hình 1. Hình thái Nưa chân vịt
A. Hình thái toàn cây (1. Phiến lá; 2. Cuống lá; 3. Thân khí sinh; 4. Thân rễ (củ); 5. Rễ con); B. Hình thái mặt trên của phiến lá; C. Hình thái mặt dưới của phiến lá; D. Hình thái cuống lá; E. Hình thái thân rễ và rễ con; F. Lát cắt ngang qua thân rễ; G. Hình thái thân khí sinh; H. Hình thái lá bắc và cụm hoa; I. Lát cắt dọc qua bầu; J. Lát cắt dọc qua 1 hoa; K. Mặt dưới và mặt trên của núm nhụy; L. Lát cắt ngang qua quả non; N. Hình thái quả non và quả chin; M. Hình thái hạt |
|
 |
| Hình 2. Vi phẫu lá Nưa chân vịt |
|
 |
|
Hình 3. Bột dược liệu Nưa chân vịt
|
Phùng Thị Thu Hà – Bộ môn Thực vật